Từ nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển mạnh sang giai đoạn phát triển cao hơn - giai đoạn độc quyền, găn liền với sự tập trung sản xuất và tư bản ở quy mô lớn. Cuộc cách mạng công nghiệp tiếp tục thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, làm cho nền đại công nghiệp ở các nước tư bản chủ yếu như Anh, Pháp, Đức, Mỹ... đạt trình độ cao, với sự ra đời của các tổ chức độc quyền chi phối nhiều ngành kinh tế. Tuy nhiên, cùng với những bước tiến của nền kinh tế tư bản, giai cấp tư sản tăng cường bóc lột và bần cùng hóa công nhân lao động; mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc, dẫn đến nhiều cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản diễn ra với quy mô ngày càng lớn.
Trong các phong trào ấy, vấn đề thời gian lao động trở thành yêu sách trung tâm. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, C.Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là một nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh đòi ngày làm việc 08 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng.
Nước Mỹ, từ một quốc gia có nền kinh tế lạc hậu, phụ thuộc vào châu Âu, đã mở rộng sản xuất, nhanh chóng phát triển trở thành nước công nghiệp hàng đầu thế giới. Thành phố Chi-ca-gô trở thành trung tâm thương nghiệp của Mỹ. Các guồng máy chạy hết công suất suốt ngày đêm, hàng vạn công nhân bị bắt buộc làm việc mỗi ngày từ 14 - 18 giờ; phụ nữ và trẻ em cũng phải lao động nặng nhọc với mức lương thấp và hầu như không có ngày nghỉ.
Hưởng ứng lời kêu gọi của “Liên đoàn Lao động Mỹ”, ngày 01/5/1886, khoảng 40.000 công nhân tại thành phố Chi-ca-gô tiến hành bãi công, tổ chức mít tinh và biểu tình với khẩu hiệu: “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!".
Cuộc đấu tranh vì mục tiêu dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội bị đàn áp đẫm máu, nhưng đã tạo được sự hưởng ứng mạnh mẽ của công nhân khắp nước Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới. Khẩu hiệu “Ngày làm việc 8 giờ” trở thành tiếng nói chung của công nhân lao động toàn cầu, buộc chính phủ nhiều nước phải ban hành luật quy định ngày làm việc 8 giờ.
Ghi nhận những thành quả của phong trào công nhân, tại Đại hội thành lập Quốc tế thứ II ngày 14/7/1889, các đại biểu đã thông qua nghị quyết lấy ngày 01/5 làm ngày đoàn kết đấu tranh của công nhân toàn thế giới.
Thực hiện nghị quyết này, ngày 01/5/1890 lần đầu tiên Ngày Quốc tế Lao động được kỷ niệm với quy mô quốc tế. Công nhân tại nhiều nước như Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Áo, Đan Mạch, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan, Ý... tổ chức bãi công, mít tỉnh, biểu tình với khẩu hiệu “Ngày làm việc 8 giờ”, “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”.
Phong trào đấu tranh đòi ngày làm việc 8 giờ lan rộng và có sức sống mạnh mẽ, trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của người lao động và sự tiến bộ của xã hội.
